Tham bát bỏ mâm
Ý nghĩa trên được hình thành nhờ sự so sánh trực quan và nôm na của tư duy dân gian: Bát chỉ là phần nhỏ nằm trong mâm cỗ lớn. Thế mà cố giành lấy bát, quên rằng mâm cỗ còn nhiều hơn, còn to hơn, âu cũng là tư tưởng tầm thường, được miếng nào hay miếng ấy, không biết nhìn xa trông rộng. Vì lẽ đó, thành ngữ tham bát bỏ mâm thường cũng được dùng để phê phán lối nhìn thiển cận, cách làm ăn manh mún, thiếu tính toán. Bỏ được tư tưởng tham bát bỏ mâm thì mới có thể tiếp cận được lối làm ăn lớn.
Thành ngữ tham bát bỏ mâm còn có biến thể như tham đĩa bỏ mâm, tham miếng bỏ bát.
Ngoài ra, trong tiếng Việt gần nghĩa với tham bát bỏ mâm còn có thành ngữ tham bong bong bỏ bọng trâu.
Đề xuất các chương
Thông Tin Sách
Danh Sách Chương
Lá mặt lá trái
Chữ như gà bới
Xui nguyên giục bị
Lấy thúng úp voi
Chó mái chim mồi
Nói nhăng nói cuội
Chết đứng như Từ Hải
Bóc ngắn cắn dài
Muỗi đốt chân voi
Bàn tay không che nổi mặt trời
Cốc mò cò xơi
Ăn chay niệm phật nói lời từ bi
Cha truyền con nối
Bàn tay có ngón ngắn ngón dài
Giật gấu vá vai
Há miệng mắc quai
Mũ ni che tai
Ba chìm bảy nổi
Dốt có đuôi
Tấc đất cắm dùi
Trộm cắp như rươi
Ruột để ngoài da
Cá chậu chim lồng
Chuồn chuồn đạp nước
Hằng hà sa số
Chuột sa chĩnh gạo
Giậu đổ bìm leo
Gan cóc tía
Phúc họa khó lường
Một mất mười ngờ
Qua cầu rút ván
Một nghề thì sống đống nghề thì chết
Như vợ chồng ngâu
Giàu làm kép hẹp làm đơn
Đa nghi như Tào Tháo
Dở dở ương ương
Thoả chí tang bồng
Niêu cơm Thạch Sanh
Như vợ chồng sam
Chết đuối vớ được cọc
Tham thì thâm
Ốc không nổi mình ốc lại mang cọc cho rêu
Ông Tơ bà Nguyệt
Mưa không khắp
Một miệng thì kín, chín miệng thì hở
Mất bò mới lo làm chuồng
Lừa ưa nặng
Mèo già hóa cáo
Lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm
Đẽo cày giữa đường
Đèo heo hút gió
Công cha nghĩa mẹ
Bọ ngựa chống xe
Ăn lông ở lỗ
Ngựa quen đường cũ
Tấc đất tấc vàng
Lòng vả cũng như lòng sung
Hồng nhan bạc mệnh
Đẹp như Tiên
Dốt hay nói chữ
Đất có thổ công, sông có hà bá
Cá chuối đắm đuối vì con
Bán lợi mua danh
Bán trời không văn tự
Ăn mày đánh đổ cầu ao
Ăn như rồng cuốn
Ăn cơm chúa, múa tối ngày
Ăn chay niệm phật
Cháy nhà ra mặt chuột
Đục nước béo cò
Lá thắm chỉ hồng
Cá hóa rồng
Quạ nào mà chẳng đen đầu
Rồng đến nhà tôm
Nằm gai nếm mật
Gửi trứng cho ác
Đứt đuôi con nòng nọc
Gương vỡ lại lành
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
Đồ Sở Khanh
Của ít lòng nhiều
Nước chảy chỗ trũng
Môi hở răng lạnh
Cá không ăn muối cá ươn
Học vẹt
Văn hay chữ tốt
Ngang như cua
Nhanh như cắt
Mỗi cây mỗi hoa
Của người phúc ta
Tương cà gia bản
Thuốc đắng dã tật
Cháy nhà mới ra mặt chuột
Chắp cánh liền cành
Chén tạc chén thù
Há miệng chờ sung
Ăn vóc học hay
Vụng chèo khéo chống
Nhạt phấn phai hương
Rau muống tháng 9 nhịn cho mẹ chồng
Ếch ngồi đáy giếng
Cú kêu cho ma ăn
Vàng thau lẫn lộn
Năm tao bảy tuyết
Có nếp có tẻ
Cõng rắn cắn gà nhà
Nước mắt cá sấu
Tức nước vỡ bờ
Thả mồi bắt bóng
Tứ cố vô thân
Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng
Thua keo này bày keo khác
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
Được voi đòi tiên
Lá lành đùm lá rách
Chim sa cá lặn
Có công mài sắt, có ngày nên kim
Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào
Chạy như cờ lông công
Cạn tàu ráo máng
Ăn ốc nói mò
Sống để dạ chết mang theo
Cà cuống chết đến đít còn cay
Giàu vì bạn, sang vì vợ
Cái tổ con chuồn chuồn
Chân nam đá chân chiêu
Chờ được mạ, má đã sưng
Bợm già mắc bẫy cò ke
Bá Nha - (Chung) Tử Kỳ
Bầu dục chấm mắm cáy
Áo vải, cờ đào
Ăn cơm nhà thổi tù và hàng tổng
Áo gấm đi đêm
Ăn cháo đái bát
Ướt như chuột lột
Bóng chim tăm cá
Oan Thị Kính
Nát như tương
Đồng không mông quạnh
Đười ươi giữ ống
Hồn xiêu phách lạc
Nói toạc móng heo
Quýt làm cam chịu
Vừa ăn cướp vừa la làng
Trướng rủ màn che
Lo bò trắng răng
Cửa Khổng sân Trình
Cáo mượn oai hùm
Sức dài vai rộng
Tiền trảm hậu tấu
Khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương
Bách phát bách trúng
Con cà con kê
Ông chẳng bà chuộc
Kín cổng cao tường
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
Ba hồn bảy vía - Ba hồn chín vía
Như nước đổ đầu vịt
Nợ như chúa Chổm
Kẻ tám lạng người nửa cân
Một nắng hai sương
Mạt cưa mướp đắng
Máu ghen Hoạn Thư
Ma ăn cỗ
Nói có sách, mách có chứng
Xác như vờ, xơ như nhộng
Len lét như rắn mùng năm
Tham bát bỏ mâm
Ba que xỏ lá
Hàng tôm hàng cá
Lời ong tiếng ve
Lệnh ông không bằng cồng bà
Sơn cùng thủy tận
Tha phương cầu thực
Rách như tổ đỉa
Rước voi giày mả tổ
Già đòn non nhẽ